Âm lịch được tính như thế nào?
Lịch âm của người Việt thực ra là âm dương lịch: tháng theo Mặt Trăng, còn năm bám theo Mặt Trời nhờ tháng nhuận. Lịch Vạn Niên tính mọi ngày bằng thiên văn, theo giờ Việt Nam. Dưới đây là cách tính, nói bằng lời thường.
Lịch là gì?
Lịch là cách chia thời gian thành ngày, tháng, năm để hẹn nhau, làm mùa, nhớ ngày giỗ, ngày lễ. Thiên nhiên cho ta ba nhịp dễ thấy: ngày (Trái Đất tự quay một vòng), tháng (Mặt Trăng tròn rồi khuyết, khoảng 29 ngày rưỡi) và năm (bốn mùa lặp lại, khoảng 365 ngày và một phần tư). Ba nhịp này không chia hết cho nhau, nên mỗi loại lịch phải chọn bám theo nhịp nào.
Dương lịch, âm lịch và âm dương lịch
- Dương lịch bám theo Mặt Trời: năm có 365 hoặc 366 ngày, còn tháng chỉ là cách chia năm cho tiện, không liên quan đến Mặt Trăng. Lịch ta dùng hằng ngày ở trường, ở cơ quan là dương lịch.
- Âm lịch thuần chỉ bám theo Mặt Trăng: 12 tháng trăng dài khoảng 354 ngày, ngắn hơn năm thật khoảng 11 ngày, nên các tháng trôi dần qua mọi mùa. Lịch Hồi giáo là một ví dụ: tháng chay Ramadan có năm rơi vào mùa hè, có năm vào mùa đông.
- Âm dương lịch bám theo cả hai: tháng theo Mặt Trăng, nhưng thỉnh thoảng thêm một tháng nhuận để năm không trôi khỏi mùa.
Cái người Việt quen gọi là “lịch âm” thực ra là âm dương lịch. Nhờ tháng nhuận, Tết Nguyên Đán luôn rơi vào cuối đông, đầu xuân, trong khoảng từ 21/1 đến 20/2 dương lịch.
Mùng 1 và ngày rằm
Mỗi tháng âm lịch bắt đầu vào ngày có trăng non: lúc Mặt Trăng nằm giữa Trái Đất và Mặt Trời, ta không nhìn thấy trăng. Ngày có thời điểm trăng non là mùng 1. Hai lần trăng non cách nhau khoảng 29 ngày rưỡi, nên tháng âm lịch có 29 ngày (tháng thiếu) hoặc 30 ngày (tháng đủ). Không có quy luật xen kẽ cố định: phải tính cho từng tháng. Ngày rằm (15) là lúc trăng gần tròn; trăng tròn thật có thể sớm hoặc muộn hơn một, hai ngày.
24 tiết khí: phần “Mặt Trời” trong lịch âm
Nhìn từ Trái Đất, mỗi năm Mặt Trời đi hết một vòng trên bầu trời. Chia vòng ấy thành 24 phần đều nhau ta được 24 tiết khí: Lập xuân, Vũ thủy, Kinh trập, Xuân phân, Thanh minh… cho đến Đông chí, Tiểu hàn, Đại hàn. Tiết khí đi theo Mặt Trời nên gắn với mùa và thời tiết, và gần như rơi vào cùng ngày dương lịch mỗi năm: Xuân phân quanh 20–21/3, Đông chí quanh 21–22/12. Nhà nông xưa dựa vào tiết khí để gieo trồng.
Mười hai trong 24 tiết, xen kẽ nhau, được gọi là trung khí (Vũ thủy, Xuân phân, Cốc vũ… Đông chí, Đại hàn). Trung khí là chìa khóa để xếp tháng nhuận.
Tháng nhuận được thêm khi nào?
Mười hai tháng âm lịch ngắn hơn một năm khoảng 11 ngày. Cứ hai, ba năm lịch lại cần thêm một tháng để bắt kịp mùa, khoảng 7 lần trong 19 năm. Tháng nhuận được chọn như sau:
- Tháng 11 âm lịch luôn là tháng có ngày Đông chí.
- Đếm số tháng từ tháng 11 năm này đến tháng 11 năm sau. Thường là 12 tháng; nếu là 13 tháng thì khoảng đó có một tháng nhuận.
- Tháng nhuận là tháng đầu tiên trong khoảng đó không có trung khí nào. Nó mang số của tháng liền trước: tháng 6 nhuận theo sau tháng 6.
Ví dụ: năm Ất Tỵ 2025 có tháng 6 nhuận, bắt đầu ngày 25/7/2025; năm 2028 có tháng 5 nhuận.
Vì sao tính theo giờ Việt Nam?
Trăng non và tiết khí là những khoảnh khắc xảy ra cùng một lúc trên cả thế giới, nhưng khoảnh khắc ấy thuộc ngày nào thì tùy múi giờ. Âm lịch Việt Nam tính theo giờ Việt Nam (UTC+7, kinh tuyến 105° Đông); âm lịch Trung Quốc tính theo giờ Bắc Kinh (UTC+8), sớm hơn một tiếng. Khi trăng non rơi vào khoảng 23 giờ đến nửa đêm ở Hà Nội, ở Bắc Kinh đã sang ngày hôm sau, và mùng 1 của hai nước lệch nhau một ngày.
Phần lớn các năm, Tết hai nước trùng nhau. Những năm lệch gần đây và sắp tới:
- Tết Đinh Hợi 2007: Việt Nam 17/2, Trung Quốc 18/2.
- Tết Canh Tuất 2030: Việt Nam 2/2, Trung Quốc 3/2.
- Tết Ất Sửu 1985 lệch gần một tháng: Việt Nam 21/1/1985, Trung Quốc 20/2/1985, vì Đông chí năm 1984 rơi sát nửa đêm: ở Hà Nội là ngày 21/12, ở Bắc Kinh đã sang 22/12, nên hai lịch xếp tháng 11 và tháng nhuận khác nhau.
Trước năm 1968, âm lịch dùng ở Việt Nam vẫn tính theo giờ UTC+8, như lịch Trung Quốc; từ năm 1968 miền Bắc chuyển sang giờ Việt Nam. Ngay năm đầu tiên, Tết Mậu Thân ở miền Bắc là 29/1/1968, sớm hơn lịch cũ một ngày (30/1). Vì vậy Lịch Vạn Niên tính các ngày trước 1/1/1968 theo UTC+8. Danh sách đầy đủ các năm lệch ở trang Vì sao lịch Việt khác lịch Trung Quốc.
“Lịch vạn niên” nghĩa là gì?
“Vạn niên” là muôn năm. Lịch vạn niên là cuốn lịch (hay ứng dụng) tra được ngày tháng của rất nhiều năm, cả dương lịch lẫn âm lịch, chứ không phải tên gọi khác của lịch âm. Lịch Vạn Niên tra được mọi ngày từ năm 1900 đến năm 2100.
Can Chi
Người xưa gọi tên năm, tháng, ngày, giờ bằng một Can ghép với một Chi. Có 10 Can (Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý) và 12 Chi (Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi, chính là 12 con giáp). Ghép lần lượt từng Can với từng Chi, sau 60 lần lại quay về đầu: Giáp Tý, Ất Sửu, Bính Dần… đến Quý Hợi. Vì thế tuổi 60 được gọi là tròn một vòng hoa giáp.
- Năm đổi Can Chi vào mùng 1 Tết, không phải ngày 1/1: người sinh tháng 1/2026, trước Tết (17/2/2026), vẫn tuổi Ất Tỵ chứ chưa sang Bính Ngọ.
- Tháng Giêng luôn là tháng Dần; tháng nhuận dùng Can Chi của tháng cùng số.
- Ngày Can Chi nối tiếp nhau đều đặn, không bao giờ ngắt quãng, kể cả qua tháng nhuận hay năm mới.
Các tên gọi khác như nạp âm, trực, hoàng đạo được giải thích ở trang Thuật ngữ.
Ngày tốt, ngày xấu nên hiểu thế nào?
Ngày hoàng đạo, hắc đạo, trực, giờ hoàng đạo, tuổi xung, Tam nương, Nguyệt kỵ… là phong tục chọn ngày truyền lại qua các sách lịch xưa và lịch vạn sự. Đây là nét văn hóa, không phải dự báo khoa học, và không quyết định một việc thành hay bại. Lịch Vạn Niên ghi lại để bạn tham khảo khi gia đình muốn giữ nếp xem ngày, và luôn nói vì sao, ví dụ: hôm ấy là ngày hắc đạo, hay ngày ấy không hợp việc cưới hỏi.
Một ngày được coi là tốt cho một việc khi đó là ngày hoàng đạo và có trực hợp việc ấy; ngày bị loại nếu rơi vào ngày kỵ (Tam nương, Nguyệt kỵ) hoặc xung với tuổi người làm việc. Trực hợp từng việc lấy theo bảng việc nên làm của một bộ sách chọn ngày cổ, ví dụ cưới hỏi hợp trực Định và Thành. Các sách có thể khác nhau ở chi tiết, nên mọi kết quả đều ghi “Tham khảo”.
Chúng tôi kiểm tra dữ liệu thế nào?
- Ngày âm lịch, tháng nhuận, tiết khí và Can Chi được tính bằng thiên văn, rồi so với một bộ ngày kiểm thử chung cho mọi ngày từ 1900 đến 2100. Web, ứng dụng iPhone, Android và máy chủ chạy cùng bộ kiểm thử ấy, nên cả bốn nơi luôn cho cùng một kết quả.
- Những ngày có trăng non hay tiết khí rơi sát nửa đêm, nơi một sai lệch vài phút có thể đổi ngày, được kiểm riêng bằng một phép tính thiên văn chính xác hơn. Trong cả giai đoạn 1900–2100 chỉ có hai ngày như vậy mà lịch khác phép tính chính xác (9/12/2072 và 19/10/2085); khi khác nhau, chúng tôi ghi rõ ở trang chi tiết.
- Phần ngày tốt xấu (trực, hoàng đạo, giờ hoàng đạo, hợp và xung tuổi, việc nên làm theo trực) được so với toàn văn một bộ sách chọn ngày cổ; tên sách ghi ở trang chi tiết kỹ thuật. Riêng Tam nương và các phép xem tuổi làm nhà là tục dân gian, không có trong sách ấy.
Thấy ngày nào chưa đúng? Hãy báo cho chúng tôi.
Chi tiết kỹ thuật: thuật toán, phiên bản, những ngày sát nửa đêm và tài liệu tham khảo