Thuật ngữ lịch âm
Các thuật ngữ dùng trên Lịch Vạn Niên, mỗi mục một câu định nghĩa và phần giải thích bằng lời thường.
Âm lịch
Lịch tính tháng theo tuần trăng: mỗi tháng bắt đầu vào ngày có trăng non (sóc) và dài 29 hoặc 30 ngày.
Âm lịch Việt Nam thực chất là âm dương lịch: tháng theo Mặt Trăng, năm theo Mặt Trời. Ngày mùng 1 là ngày chứa thời điểm trăng non tính theo giờ Việt Nam; tháng 11 âm lịch luôn chứa tiết Đông chí, và khi một năm có 13 tháng thì thêm một tháng nhuận. Lịch Vạn Niên tính các thời điểm trăng non bằng thuật toán thiên văn.
Can Chi
Cách gọi tên năm, tháng, ngày, giờ bằng một Can (10 Can) ghép với một Chi (12 Chi), lặp lại sau 60 lần.
Mười Can là Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý; mười hai Chi là Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Ghép lần lượt được vòng 60 (lục thập hoa giáp), từ Giáp Tý đến Quý Hợi. Can Chi của năm đổi vào mùng 1 Tết, của tháng theo tháng âm lịch (tháng Giêng là tháng Dần, tháng nhuận dùng Can Chi của tháng thường cùng số), của ngày đếm liên tục theo số ngày Julius.
Nạp âm
Ngũ hành gắn với từng cặp Can Chi trong vòng 60, ví dụ Lộ Bàng Thổ, Thiên Hà Thủy; mệnh của một năm là nạp âm của năm đó.
Vòng 60 Can Chi được chia thành 30 cặp liền nhau, mỗi cặp mang một tên nạp âm thuộc một trong năm hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Nạp âm của ngày dùng Can Chi của ngày; "mệnh" của người hay của năm là nạp âm của Can Chi năm sinh. Lịch Vạn Niên chỉ dùng nạp âm để giải thích, không dùng để đổi kết quả hợp hay xung.
Tiết khí
Hai mươi bốn mốc trong năm theo vị trí Mặt Trời, mỗi mốc cách nhau 15° kinh độ, như Lập xuân, Thanh minh, Đông chí.
Tiết khí là phần "dương lịch" của âm lịch: Xuân phân ở 0°, Thanh minh ở 15°, Đông chí ở 270°, Lập xuân ở 315°. Mỗi ngày mang tiết khí đang có hiệu lực vào cuối ngày theo giờ Việt Nam. Thời điểm của các tiết được tính sẵn bằng phương pháp thiên văn cho mọi năm 1900–2100.
Tháng tiết
Tháng tính theo tiết khí, bắt đầu từ một tiết (Lập xuân mở tháng Dần), dùng để xác định trực và mười hai thần của ngày.
Khác với tháng âm lịch bắt đầu từ trăng non, tháng tiết bắt đầu vào ngày một tiết (tiết khí số lẻ) bắt đầu: Lập xuân mở tháng Dần, Kinh trập mở tháng Mão, và cứ thế. Vì vậy từ Lập xuân đến Tết, tháng tiết đã là Dần trong khi tháng âm lịch vẫn là tháng Chạp.
Ngày hoàng đạo
Ngày rơi vào một trong sáu thần tốt của vòng mười hai thần: Thanh Long, Minh Đường, Kim Quỹ, Thiên Đức, Ngọc Đường, Tư Mệnh.
Trong mỗi tháng tiết, mười hai thần lần lượt cai quản các ngày theo Chi của ngày. Sáu thần tốt gọi là hoàng đạo, sáu thần xấu là hắc đạo. Ngày hoàng đạo là một điều kiện để chọn ngày tốt cho việc lớn, nhưng chưa đủ: còn xét trực, ngày kỵ và tuổi người làm việc.
Ngày hắc đạo
Ngày rơi vào một trong sáu thần xấu: Thiên Hình, Chu Tước, Bạch Hổ, Thiên Lao, Huyền Vũ, Câu Trần.
Ngày hắc đạo theo sách cũ nên tránh khởi sự việc lớn như cưới hỏi, động thổ, khai trương. Việc thường ngày không bị ảnh hưởng. Lịch Vạn Niên ghi rõ thần của mỗi ngày và cách đếm ra thần đó trong mục "Vì sao".
Mười hai thần (thập nhị thần)
Vòng mười hai thần Thanh Long, Minh Đường, Thiên Hình… luân phiên theo ngày, khởi từ ngày Thanh Long của mỗi tháng tiết.
Ngày Thanh Long của tháng tiết phụ thuộc Chi của tháng: tháng Dần và Thân khởi ở ngày Tý, Mão và Dậu ở ngày Dần, Thìn và Tuất ở ngày Thìn, Tỵ và Hợi ở ngày Ngọ, Ngọ và Tý ở ngày Thân, Mùi và Sửu ở ngày Tuất. Đếm từ đó đến Chi của ngày được thần của ngày.
Trực (thập nhị trực)
Mười hai trực Kiến, Trừ, Mãn, Bình, Định, Chấp, Phá, Nguy, Thành, Thu, Khai, Bế, mỗi ngày một trực, dùng để xét việc nên làm.
Trực Kiến rơi vào ngày có Chi trùng Chi của tháng tiết, rồi mỗi ngày tiến một trực; ngày bắt đầu tháng tiết mới thì trực lặp lại trực hôm trước. Mỗi việc có những trực hợp theo bảng việc nên làm của sách chọn ngày cổ, ví dụ cưới hỏi hợp trực Định và Thành.
Giờ hoàng đạo
Sáu trong mười hai giờ (mỗi giờ hai tiếng) của một ngày được coi là tốt, tùy theo Chi của ngày.
Một ngày chia thành mười hai giờ theo Chi: giờ Tý từ 23 đến 1 giờ, Sửu 1–3 giờ, Dần 3–5 giờ… Mỗi Chi ngày có sáu giờ hoàng đạo cố định. Lịch Vạn Niên gắn giờ Tý (23–1 giờ) vào ngày dương lịch được liệt kê, không theo cách tính ngày mới bắt đầu từ 23 giờ.
Lục xung, tuổi xung
Sáu cặp Chi đối nhau (Tý–Ngọ, Sửu–Mùi, Dần–Thân, Mão–Dậu, Thìn–Tuất, Tỵ–Hợi); tuổi xung của ngày là Chi đối với Chi ngày.
Một ngày xung với người có Chi năm sinh đối với Chi của ngày. Lịch Vạn Niên chỉ xét theo Chi, nên ghi "Tuổi xung (theo chi)"; một số sách còn xét cả Can (thiên khắc địa xung) và cho danh sách khác. Ngày xung với người làm việc bị loại khi chọn ngày tốt.
Lục hợp
Sáu cặp Chi hợp nhau: Tý–Sửu, Dần–Hợi, Mão–Tuất, Thìn–Dậu, Tỵ–Thân, Ngọ–Mùi.
Ngày có Chi lục hợp với Chi năm sinh được coi là ngày hợp tuổi. Khi chọn ngày tốt, mỗi người làm việc có Chi lục hợp hoặc tam hợp với ngày được cộng một điểm.
Tam hợp
Bốn bộ ba Chi hợp nhau: Thân–Tý–Thìn, Dần–Ngọ–Tuất, Tỵ–Dậu–Sửu, Hợi–Mão–Mùi.
Hai Chi khác nhau cùng một bộ tam hợp được coi là hợp. Lịch Vạn Niên xét lục xung trước, rồi lục hợp, rồi tam hợp; không thuộc trường hợp nào thì là bình thường.
Tam nương
Các ngày âm lịch mùng 3, mùng 7, 13, 18, 22 và 27 mỗi tháng, theo tục dân gian kiêng khởi sự việc lớn.
Tam nương là ngày kỵ theo truyền khẩu dân gian, không phụ thuộc Can Chi. Khi chọn ngày tốt cho cưới hỏi, động thổ, khai trương và các việc khác, Lịch Vạn Niên loại các ngày này và ghi lý do.
Nguyệt kỵ
Các ngày âm lịch mùng 5, 14 và 23 mỗi tháng ("mùng năm, mười bốn, hăm ba"), theo tục dân gian kiêng đi xa, khởi sự.
Câu "mùng năm, mười bốn, hăm ba, đi chơi cũng lỗ nữa là đi buôn" nói về ba ngày Nguyệt kỵ. Như Tam nương, các ngày này bị loại khi chọn ngày tốt.
Tháng nhuận
Tháng âm lịch thêm vào năm có 13 tháng, mang số của tháng liền trước; là tháng đầu tiên trong năm đó không chứa trung khí.
Năm âm lịch có 13 tháng khi giữa hai tháng 11 có 13 lần trăng non. Tháng nhuận là tháng đầu tiên sau tháng 11 không chứa trung khí (tiết khí số chẵn), ví dụ tháng Sáu nhuận năm Ất Tỵ 2025, tháng Năm nhuận năm Mậu Thân 2028. Tháng nhuận dùng Can Chi của tháng thường cùng số; giỗ và lễ hằng năm tính theo tháng thường.
Tiểu tường
Giỗ đầu, tròn một năm sau ngày mất theo âm lịch.
Tiểu tường là lễ giỗ đầu tiên, vào ngày mất của năm âm lịch sau. Nếu ngày mất là ngày 30 mà tháng năm đó chỉ có 29 ngày thì làm vào ngày 29. Ngày mất trong tháng nhuận được giỗ vào tháng thường cùng số.
Đại tường
Giỗ hết, tròn hai năm sau ngày mất theo âm lịch, thường là dịp mãn tang.
Đại tường là lễ giỗ thứ hai. Nhiều nơi làm lễ trừ phục, mãn tang sau đại tường hoặc sau 27 tháng. Lịch Vạn Niên tính đại tường theo ngày âm lịch danh nghĩa của năm thứ hai.
Cát kỵ (giỗ thường)
Các lần giỗ hằng năm từ năm thứ ba trở đi, còn gọi là giỗ thường.
Sau đại tường, giỗ hằng năm gọi là cát kỵ. Khi ngày mất là ngày 30 mà năm đó tháng chỉ có 29 ngày, gia đình có thể làm vào ngày 29 hoặc bỏ năm đó tùy nếp nhà; Lịch Vạn Niên mặc định lùi về ngày 29.
Tiên thường
Lễ cúng chiều hôm trước ngày giỗ, báo cáo gia tiên và mời người đã khuất về dự giỗ.
Tiên thường (cúng tiên thường) làm vào ngày liền trước ngày giỗ. Ứng dụng Lịch Vạn Niên nhắc cả ngày tiên thường lẫn ngày giỗ chính.
Múi giờ UTC+7
Âm lịch Việt Nam tính theo giờ Hà Nội (kinh tuyến 105° Đông, UTC+7), nên có tháng lệch một ngày với lịch Trung Quốc (UTC+8).
Ngày mùng 1 phụ thuộc giờ của trăng non: khi trăng non rơi vào khoảng từ 0 giờ đến 1 giờ sáng giờ Bắc Kinh, ở Việt Nam vẫn là 23 giờ đến nửa đêm của ngày hôm trước, nên tháng ở Việt Nam bắt đầu sớm hơn một ngày. Vì thế Tết Việt có năm sớm hơn Tết Trung Quốc một ngày, như năm 2030. Trước năm 1968, âm lịch miền Bắc tính theo UTC+8.